Thương hiệu Nike: Thần phù nhân định
VIC.BRAND - Trong thế giới thương hiệu, Nike vốn sinh sau đẻ muộn nhưng rồi nhanh chóng trở thành kỳ phùng địch thủ với thương hiệu cây đa cây đề. Rõ là hậu sinh mà khiến các tiền bối phải kiềng nể, xuất phát sau mà rồi lại có lúc dẫn đầu.
Trên danh nghĩa chính thức, thương hiệu Nike có từ năm 1971. Nhưng quá trình đưa đến sự ra đời của nó đã được khởi nguồn từ năm 1957 trong một cuộc hội ngộ giữa hai người ở Trường đại học Tổng hợp Oregon (Mỹ).
Hai người này và cái logo của thương hiệu năm 1971 đã làm nên những gì mà Nike có được ngày nay, đã giúp Nike trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất và có giá nhất trên lĩnh vực sản phẩm phục vụ cho thể thao. Đó là Bill Bowerman và Phil Knight. Còn tác giả của logo cho Nike là nhà thiết kế Carolyn Davidson. Ba con người tương đồng với nhau ở ý tưởng lớn về triết lý kinh doanh và ý chí quyết tâm xây dựng thương hiệu.
Cùng ý tưởng lớn và chí lớn
Bill Bowerman là huấn luyện viên điền kinh khá nổi tiếng về phương pháp huấn luyện gần như chẳng theo trường phái nào. Khi làm huấn luyện viên cho đội điền kinh của trường Đại học tổng hợp Oregon, Bowerman thậm chí còn thiết kế giày chạy cho các vận động viên. Phil Knight là một thành viên trong đội tuyển và bị ám ảnh bởi giày chạy từ thời đó.
Đối với Bowerman và Phil, giày chạy thể thao không chỉ đơn thuần là giày thể thao, mà phải là đôi giày giúp vận động viên đạt được thành tích cao nhất. Thời đó, hãng Adidas và Puma (của Đức) gần như thống trị thị trường giày thể thao thế giới. Khi còn học ở Stanford Business School, Knight đã viết tiểu luận đưa ra ý tưởng nhập khẩu giày thể thao từ Nhật Bản sang Mỹ để những người chơi thể thao ở Mỹ không bị buộc phải sử dụng giày Adidas hay Puma đắt tiền.
Năm 1962, Knight cất công sang Nhật và thuyết phục hãng giày thể thao Tiger của Nhật - về sau đổi tên thành Asics - chấp nhận mình làm đại lý tiêu thụ ở Mỹ. Sau đó Knight cùng với Bowerman thành lập công ty Blue Ribbon Sports. Đúng ra thì phải nói đó chính là tiền thân của thương hiệu Nike. Ở thời điểm đó, Knight chưa hẳn toàn tâm toàn ý với lĩnh vực kinh doanh này mà vẫn tiếp tục làm việc cho hãng kiểm toán Price Waterhouse.
Nhưng ngay từ thời kỳ đầu này, Knight và Bowerman đã xác định triết lý kinh doanh và phong cách quản lý mà về sau được coi là bí quyết thành công của thương hiệu Nike. Triết lý kinh doanh đó là, không nên tin những ai quả quyết rằng không thể cải tiến được những gì đã được coi là hoàn hảo. Hoàn hảo không phải là hằng số và bất biến. Một khi đã có cái hoàn hảo thì sẽ có cái còn hoàn hảo hơn và không bao giờ có cái hoàn hảo nhất vĩnh viễn cả.
Phong cách quản lý của Knight và Bowerman là tìm kiếm cộng sự thích hợp, khích lệ họ lao động sáng tạo và sau đó để chính họ triển khai thực hiện và quản lý. Knight chỉ chuyên tâm lo về tài chính. Bowerman thiết kế mẫu mã. Đầu thập kỷ 70, công ty của Knight và Bowerman làm ăn phát đạt với việc đại lý tiêu thụ cho hãng giày Tiger đến mức nhà sản xuất và cung ứng giày ở Nhật Bản muốn tự khai thác thị trường Mỹ.
Vì thế, năm 1971, Knight chấm dứt hợp đồng đại lý và bắt đầu kinh doanh độc lập. Các nhà viết lịch sử thương hiệu về sau đều nhất trí rằng, nếu như không có chuyện này thì chưa biết đến khi nào mới ra đời thương hiệu Nike.
Phát minh của Bowerman và thiết kế logo của Davidson
Knight cần cái tên thương hiệu ẩn chứa đầy ý nghĩa và logo cho thương hiệu. Cho tới nay, không ai biết tên thương hiệu Nike có trước hay logo cho thương hiệu có trước vì chúng liên quan trực tiếp đến nhau. Nike là tên của Nữ thần Chiến thắng trong thần thoại Hy Lạp và những hình ảnh về nữ thần này còn lưu truyền được đến ngày nay đều miêu tả vị thần này có đôi cánh với lời giải thích là có đôi cánh để bay cao, bay xa, vượt lên trên tất cả, luôn chiến thắng. Nike vừa là tên thần, lại vừa có nghĩa là chiến thắng. Knight tâm đắc điều đó.
Carolyn Davidson gặp Knight ở Đại học tổng hợp quốc gia Portland khi Knight đến đó giảng bài về kiểm toán, và từ đó thỉnh thoảng có làm việc này việc nọ cho công ty Blue Ribbon Sports. Knight đề nghị cô thiết kế logo cho công ty mới và Davidson đồng ý với thù lao 2 USD cho 1 giờ làm việc. Sản phẩm của Davidson là cái Swoosh, trông như cái cánh của thiên thần và chỉ tiêu tốn có hơn 35 USD tiền công. Logo ấy xuất hiện lần đầu tiên năm 1971 cùng với sản phẩm của Nike.
Cho tới tận ngày nay, không ai dám phủ nhận một thực tế là, chính cái logo ấy đã góp phần rất quan trọng vào thành công của thương hiệu Nike. Năm 1982, để biểu thị sự biết ơn và đánh giá đúng mức giá trị của logo này, Knight đã tặng Davidson một cái Swoosh bằng vàng và một tập cổ phiếu của tập đoàn Nike có giá trị gấp rất nhiều lần cái giá thiết kế năm nào.
Giày thể thao của Nike có thể cạnh tranh với tất cả các loại giày thể thao hàng hiệu khác trên thị trường còn nhờ phát minh về đế giày xốp của Bowerman.
Truyện kể lại rằng, một lần ăn sáng ở nhà, Bowerman trông thấy vợ làm bánh xốp và nảy ra ý tưởng áp dụng độ xốp ấy cho đế giày. Bowerman đem ngay máy làm bánh xốp của vợ vào xưởng và đổ cao su chảy vào đó. Quá trình từ đó của thương hiệu này gần như không khác gì nhiều quá trình thành đạt của những thương hiệu nổi tiếng khác trên thế giới.
Không phải Nike không gặp phải những giai đoạn sa sút và yếu kém. Nike nắm bắt được trào lưu jogging và triệt để kinh doanh hóa nó, nhưng lại không nhận ra làn sóng thể dục nhịp điệu (Aerobics) trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Nike lại phục hồi và lớn mạnh nhưng rồi lại không để ý đến nhu cầu về giày đắt tiền ngày càng giảm và khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng tiêu cực đến tiêu dùng. Phil Knight hai lần rửa tay gác kiếm trong tập đoàn và rồi lại hai lần phải tái xuất giang hồ để vực lại Nike.
Bao thập kỷ trôi qua, thương hiệu này đã trở thành một cây đại thụ trong rừng thương hiệu. Nó gắn liền với thể thao và trở thành một biểu tượng cho thể thao. Nó mang tên của một vị thần và vì thế được cho rằng vị thần đã ủng hộ nó. Thần phù hộ cho chỉ là một chuyện. Vai trò của con người là chuyện khác và mới là điều quyết định trong thành công của thương hiệu này. Nike thành công bởi kiên định triết lý kinh doanh và phong cách quản lý kể từ khi tiền thân của nó ra đời. Vấn đề không chỉ là sản phẩm có chất lượng, mà phải là chất lượng ngày càng cao hơn.
Nike là một bằng chứng về việc thương hiệu nào muốn thành công trong cuộc cạnh tranh trên thương trường khốc liệt và không khoan nhượng chẳng kém gì chiến trường thì phải quyết đoán và linh hoạt, muốn thành công thì không được phép chần chừ, phải "Just do it" (tạm dịch: làm ngay đi) như khẩu hiệu quảng cáo và tiếp thị của Nike.
Nếu có thần thánh phù hộ thì chắc chắn thần thánh cũng chỉ phù hộ cho những ý tưởng lớn và những con người có đủ năng lực sáng tạo và ý chí thực hiện ý tưởng đó. Nike là chiến thắng, nhưng không phải cái tên mà chính con người mới làm nên chiến thắng, để thần thánh trong những nền văn hóa đã đắm chìm trong bụi phủ của thời gian vẫn được coi là có phần linh thiêng ở thời hiện đại.
Nguồn: Doanh Nhân
Trên danh nghĩa chính thức, thương hiệu Nike có từ năm 1971. Nhưng quá trình đưa đến sự ra đời của nó đã được khởi nguồn từ năm 1957 trong một cuộc hội ngộ giữa hai người ở Trường đại học Tổng hợp Oregon (Mỹ).
Hai người này và cái logo của thương hiệu năm 1971 đã làm nên những gì mà Nike có được ngày nay, đã giúp Nike trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất và có giá nhất trên lĩnh vực sản phẩm phục vụ cho thể thao. Đó là Bill Bowerman và Phil Knight. Còn tác giả của logo cho Nike là nhà thiết kế Carolyn Davidson. Ba con người tương đồng với nhau ở ý tưởng lớn về triết lý kinh doanh và ý chí quyết tâm xây dựng thương hiệu.
Cùng ý tưởng lớn và chí lớn
Bill Bowerman là huấn luyện viên điền kinh khá nổi tiếng về phương pháp huấn luyện gần như chẳng theo trường phái nào. Khi làm huấn luyện viên cho đội điền kinh của trường Đại học tổng hợp Oregon, Bowerman thậm chí còn thiết kế giày chạy cho các vận động viên. Phil Knight là một thành viên trong đội tuyển và bị ám ảnh bởi giày chạy từ thời đó.
Đối với Bowerman và Phil, giày chạy thể thao không chỉ đơn thuần là giày thể thao, mà phải là đôi giày giúp vận động viên đạt được thành tích cao nhất. Thời đó, hãng Adidas và Puma (của Đức) gần như thống trị thị trường giày thể thao thế giới. Khi còn học ở Stanford Business School, Knight đã viết tiểu luận đưa ra ý tưởng nhập khẩu giày thể thao từ Nhật Bản sang Mỹ để những người chơi thể thao ở Mỹ không bị buộc phải sử dụng giày Adidas hay Puma đắt tiền.
Năm 1962, Knight cất công sang Nhật và thuyết phục hãng giày thể thao Tiger của Nhật - về sau đổi tên thành Asics - chấp nhận mình làm đại lý tiêu thụ ở Mỹ. Sau đó Knight cùng với Bowerman thành lập công ty Blue Ribbon Sports. Đúng ra thì phải nói đó chính là tiền thân của thương hiệu Nike. Ở thời điểm đó, Knight chưa hẳn toàn tâm toàn ý với lĩnh vực kinh doanh này mà vẫn tiếp tục làm việc cho hãng kiểm toán Price Waterhouse.Nhưng ngay từ thời kỳ đầu này, Knight và Bowerman đã xác định triết lý kinh doanh và phong cách quản lý mà về sau được coi là bí quyết thành công của thương hiệu Nike. Triết lý kinh doanh đó là, không nên tin những ai quả quyết rằng không thể cải tiến được những gì đã được coi là hoàn hảo. Hoàn hảo không phải là hằng số và bất biến. Một khi đã có cái hoàn hảo thì sẽ có cái còn hoàn hảo hơn và không bao giờ có cái hoàn hảo nhất vĩnh viễn cả.
Phong cách quản lý của Knight và Bowerman là tìm kiếm cộng sự thích hợp, khích lệ họ lao động sáng tạo và sau đó để chính họ triển khai thực hiện và quản lý. Knight chỉ chuyên tâm lo về tài chính. Bowerman thiết kế mẫu mã. Đầu thập kỷ 70, công ty của Knight và Bowerman làm ăn phát đạt với việc đại lý tiêu thụ cho hãng giày Tiger đến mức nhà sản xuất và cung ứng giày ở Nhật Bản muốn tự khai thác thị trường Mỹ.
Vì thế, năm 1971, Knight chấm dứt hợp đồng đại lý và bắt đầu kinh doanh độc lập. Các nhà viết lịch sử thương hiệu về sau đều nhất trí rằng, nếu như không có chuyện này thì chưa biết đến khi nào mới ra đời thương hiệu Nike.
Phát minh của Bowerman và thiết kế logo của Davidson
Knight cần cái tên thương hiệu ẩn chứa đầy ý nghĩa và logo cho thương hiệu. Cho tới nay, không ai biết tên thương hiệu Nike có trước hay logo cho thương hiệu có trước vì chúng liên quan trực tiếp đến nhau. Nike là tên của Nữ thần Chiến thắng trong thần thoại Hy Lạp và những hình ảnh về nữ thần này còn lưu truyền được đến ngày nay đều miêu tả vị thần này có đôi cánh với lời giải thích là có đôi cánh để bay cao, bay xa, vượt lên trên tất cả, luôn chiến thắng. Nike vừa là tên thần, lại vừa có nghĩa là chiến thắng. Knight tâm đắc điều đó.
Carolyn Davidson gặp Knight ở Đại học tổng hợp quốc gia Portland khi Knight đến đó giảng bài về kiểm toán, và từ đó thỉnh thoảng có làm việc này việc nọ cho công ty Blue Ribbon Sports. Knight đề nghị cô thiết kế logo cho công ty mới và Davidson đồng ý với thù lao 2 USD cho 1 giờ làm việc. Sản phẩm của Davidson là cái Swoosh, trông như cái cánh của thiên thần và chỉ tiêu tốn có hơn 35 USD tiền công. Logo ấy xuất hiện lần đầu tiên năm 1971 cùng với sản phẩm của Nike.
Cho tới tận ngày nay, không ai dám phủ nhận một thực tế là, chính cái logo ấy đã góp phần rất quan trọng vào thành công của thương hiệu Nike. Năm 1982, để biểu thị sự biết ơn và đánh giá đúng mức giá trị của logo này, Knight đã tặng Davidson một cái Swoosh bằng vàng và một tập cổ phiếu của tập đoàn Nike có giá trị gấp rất nhiều lần cái giá thiết kế năm nào.
Giày thể thao của Nike có thể cạnh tranh với tất cả các loại giày thể thao hàng hiệu khác trên thị trường còn nhờ phát minh về đế giày xốp của Bowerman.
Truyện kể lại rằng, một lần ăn sáng ở nhà, Bowerman trông thấy vợ làm bánh xốp và nảy ra ý tưởng áp dụng độ xốp ấy cho đế giày. Bowerman đem ngay máy làm bánh xốp của vợ vào xưởng và đổ cao su chảy vào đó. Quá trình từ đó của thương hiệu này gần như không khác gì nhiều quá trình thành đạt của những thương hiệu nổi tiếng khác trên thế giới.
Không phải Nike không gặp phải những giai đoạn sa sút và yếu kém. Nike nắm bắt được trào lưu jogging và triệt để kinh doanh hóa nó, nhưng lại không nhận ra làn sóng thể dục nhịp điệu (Aerobics) trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Nike lại phục hồi và lớn mạnh nhưng rồi lại không để ý đến nhu cầu về giày đắt tiền ngày càng giảm và khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng tiêu cực đến tiêu dùng. Phil Knight hai lần rửa tay gác kiếm trong tập đoàn và rồi lại hai lần phải tái xuất giang hồ để vực lại Nike.
Bao thập kỷ trôi qua, thương hiệu này đã trở thành một cây đại thụ trong rừng thương hiệu. Nó gắn liền với thể thao và trở thành một biểu tượng cho thể thao. Nó mang tên của một vị thần và vì thế được cho rằng vị thần đã ủng hộ nó. Thần phù hộ cho chỉ là một chuyện. Vai trò của con người là chuyện khác và mới là điều quyết định trong thành công của thương hiệu này. Nike thành công bởi kiên định triết lý kinh doanh và phong cách quản lý kể từ khi tiền thân của nó ra đời. Vấn đề không chỉ là sản phẩm có chất lượng, mà phải là chất lượng ngày càng cao hơn.
Nike là một bằng chứng về việc thương hiệu nào muốn thành công trong cuộc cạnh tranh trên thương trường khốc liệt và không khoan nhượng chẳng kém gì chiến trường thì phải quyết đoán và linh hoạt, muốn thành công thì không được phép chần chừ, phải "Just do it" (tạm dịch: làm ngay đi) như khẩu hiệu quảng cáo và tiếp thị của Nike.
Nếu có thần thánh phù hộ thì chắc chắn thần thánh cũng chỉ phù hộ cho những ý tưởng lớn và những con người có đủ năng lực sáng tạo và ý chí thực hiện ý tưởng đó. Nike là chiến thắng, nhưng không phải cái tên mà chính con người mới làm nên chiến thắng, để thần thánh trong những nền văn hóa đã đắm chìm trong bụi phủ của thời gian vẫn được coi là có phần linh thiêng ở thời hiện đại.
Nguồn: Doanh Nhân
Tags:
Brand
Xây dựng thương hiệu giáo dục
VIC.BRAND - Văn hóa Á Đông luôn đặt nặng vấn đề học vấn, vì vậy thầy cô giáo rất được tôn trọng và là hình ảnh mô phạm, mẫu mực cho sinh viên học sinh.
Nếu nhìn ở góc độ kinh doanh, với văn hóa hiếu học như thế, nhu cầu về giáo dục ở thị trường châu Á rất cao. Và thực sự có rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học, mầm non ở các nước Đông Nam Á. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, tại sao phần lớn các trường danh tiếng lại xuất phát từ Mỹ, Nhật, Anh, Canada, Úc và châu Âu? Có thực sự họ nổi tiếng dựa vào chất lượng, hay họ phải dùng đến công cụ marketing để đánh bóng thương hiệu giáo dục? Nếu nói về kiến thức marketing, các trường ở Việt Nam không hề thua kém, nhưng hình ảnh “mô phạm” là một trong những rào cản khiến những người làm giáo dục khó đẩy mạnh tiếp thị thương hiệu giáo dục. Đồng thời đây là một ngành cần phải được hỗ trợ marketing từ phía chính phủ.
Marketing hỗn hợp
Đã có rất nhiều tổ chức, công ty, Cá nhân bỏ ra hàng triệu USD để xây dựng một trường đào tạo hoặc liên kết đưa các trường nước ngoài về Việt Nam. Khá nhiều trường ở Việt Nam đã thành công về mặt doanh số, nhưng chưa thể kết luận họ làm kinh doanh tốt. Vì nếu nói về thương hiệu giáo dục, có bao nhiêu tên trường Việt Nam nằm trong danh sách những trường tốt của “khách hàng”?
Để xây dựng thương hiệu thành công, các tổ chức giáo dục cũng cần áp dụng mô hình marketing hỗn hợp, hay còn gọi là mô hình 4P.
Vậy mô hình 4P là như thế nào?
Thứ nhất là Products (Sản phẩm). Nhiều nhà đầu tư giáo dục cho rằng, chỉ cần chương trình (sản phẩm) tốt là đủ. Vậy tại sao có nhiều chương trình tốt từ nước ngoài mang về Việt Nam vẫn thất bại? Một sản phẩm giáo dục, ngoài giáo trình tốt là cốt lõi, giảng viên cũng là một sản phẩm. Các dịch vụ hỗ trợ học sinh, sinh viên cũng là một sản phẩm, nhưng sản phẩm quan trọng nhất là người học.
Thứ 2 là Promotion (Quảng cáo). Có rất nhiều chương trình nước ngoài, hoặc trường quốc tế quảng cáo rầm rộ, giảm 50% học phí, phát tờ rơi đầy một góc đường vẫn không thu hút được học sinh, sinh viên. Hãy dùng yếu tố con người là công cụ quảng cáo hữu hiệu cho kinh doanh giáo dục. Như đã nói ở trên, người học là một sản phẩm quan trọng. Hãy giới thiệu sản phẩm quan trọng này với khách hàng, với thị trường qua nhiều kênh. Ví dụ, qua chương trình giao lưu, thi thố tài năng; chương trình vừa học vừa làm đưa sinh viên đi khắp nơi làm việc trong mọi lĩnh vực. Và hãy dùng một công cụ mà người Việt đã biết sử dụng từ lâu đời. Đó là truyền miệng. Hãy đưa những giảng viên giỏi đi nói chuyện ở các tổ chức, hiệp hội...
Thứ 3 là Physical Evidence (Sự hữu hình). Giáo dục là một sản phẩm vô hình. Vậy làm sao có thể hữu hình hóa để khách hàng hiểu, chấp nhận và quyết định mua? Tùy vào đối tượng khách hàng mà trả lời câu hỏi này. Nếu đó là các bậc cha mẹ tìm kiếm một trường mầm non cho con thì họ quan tâm đến những gì? Hãy thiết kế chương trình phù hợp với mối quan tâm đó. .ếu đối tượng là người đi làm muốn học thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), thì cũng nên tìm hiểu họ quan tâm đến những gì?
Cuối cùng là People (Con người). Phần lớn các hiệu trưởng, trưởng khoa và giáo sư đại học ở các nước phát triển đều có ý thức thương mại hóa các nghiên cứu và phát minh của mình. Họ quan hệ cực kỳ tốt với rất nhiều công ty trong lĩnh vực họ nghiên cứu. Vì đây là cầu nối để đưa những sản phẩm quan trọng là sinh viên đến với thị trường.
Doanh thu và mô hình kinh doanh trong giáo dục
Lợi thế của mô hình kinh doanh giáo dục là vừa có thể là tổ chức phi lợi nhuận vừa có thể là tổ chức doanh lợi. Ngoài làm giáo dục có thể kêu gọi tài trợ, hỗ trợ từ các doanh nghiệp nhưng vẫn có thể thu phí như bất kỳ mô hình kinh doanh nào. Đại học Harvard xin tiền tài trợ hằng năm cả trăm triệu USD, nhưng học phí của Trường không rẻ chút nào.
Nếu so sánh với mô hình kinh doanh khác, kinh doanh giáo dục cũng có thể được bán sỉ cho các doanh nghiệp, hoặc có thể bán lẻ cho cá nhân. Ví dụ, nếu kinh doanh trường dạy tiếng Anh, bạn có thể bán những gói sản phẩm cho doanh nghiệp, hoặc có thể mở lớp dạy mọi đối tượng. Nhưng kinh doanh ngoại ngữ được xem là kinh doanh đại trà. Nếu kinh doanh giáo dục ở bậc sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) bạn có thể bán lẻ cho cá nhân đang đi làm, sinh viên muốn học cao hơn. Mô hình này được xem là sản phẩm cao cấp.
Mặc dù nhìn giáo dục dưới con mắt kinh doanh, nhưng đừng quên văn hóa của Quốc Gia. Dung hòa được 2 yếu tố này, việc kinh doanh giáo dục sẽ trường tồn.
Nguồn: Nhịp Cầu Đầu Tư
Nếu nhìn ở góc độ kinh doanh, với văn hóa hiếu học như thế, nhu cầu về giáo dục ở thị trường châu Á rất cao. Và thực sự có rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học, mầm non ở các nước Đông Nam Á. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, tại sao phần lớn các trường danh tiếng lại xuất phát từ Mỹ, Nhật, Anh, Canada, Úc và châu Âu? Có thực sự họ nổi tiếng dựa vào chất lượng, hay họ phải dùng đến công cụ marketing để đánh bóng thương hiệu giáo dục? Nếu nói về kiến thức marketing, các trường ở Việt Nam không hề thua kém, nhưng hình ảnh “mô phạm” là một trong những rào cản khiến những người làm giáo dục khó đẩy mạnh tiếp thị thương hiệu giáo dục. Đồng thời đây là một ngành cần phải được hỗ trợ marketing từ phía chính phủ.Marketing hỗn hợp
Đã có rất nhiều tổ chức, công ty, Cá nhân bỏ ra hàng triệu USD để xây dựng một trường đào tạo hoặc liên kết đưa các trường nước ngoài về Việt Nam. Khá nhiều trường ở Việt Nam đã thành công về mặt doanh số, nhưng chưa thể kết luận họ làm kinh doanh tốt. Vì nếu nói về thương hiệu giáo dục, có bao nhiêu tên trường Việt Nam nằm trong danh sách những trường tốt của “khách hàng”?
Để xây dựng thương hiệu thành công, các tổ chức giáo dục cũng cần áp dụng mô hình marketing hỗn hợp, hay còn gọi là mô hình 4P.
Vậy mô hình 4P là như thế nào?
Thứ nhất là Products (Sản phẩm). Nhiều nhà đầu tư giáo dục cho rằng, chỉ cần chương trình (sản phẩm) tốt là đủ. Vậy tại sao có nhiều chương trình tốt từ nước ngoài mang về Việt Nam vẫn thất bại? Một sản phẩm giáo dục, ngoài giáo trình tốt là cốt lõi, giảng viên cũng là một sản phẩm. Các dịch vụ hỗ trợ học sinh, sinh viên cũng là một sản phẩm, nhưng sản phẩm quan trọng nhất là người học.
Thứ 2 là Promotion (Quảng cáo). Có rất nhiều chương trình nước ngoài, hoặc trường quốc tế quảng cáo rầm rộ, giảm 50% học phí, phát tờ rơi đầy một góc đường vẫn không thu hút được học sinh, sinh viên. Hãy dùng yếu tố con người là công cụ quảng cáo hữu hiệu cho kinh doanh giáo dục. Như đã nói ở trên, người học là một sản phẩm quan trọng. Hãy giới thiệu sản phẩm quan trọng này với khách hàng, với thị trường qua nhiều kênh. Ví dụ, qua chương trình giao lưu, thi thố tài năng; chương trình vừa học vừa làm đưa sinh viên đi khắp nơi làm việc trong mọi lĩnh vực. Và hãy dùng một công cụ mà người Việt đã biết sử dụng từ lâu đời. Đó là truyền miệng. Hãy đưa những giảng viên giỏi đi nói chuyện ở các tổ chức, hiệp hội...
Thứ 3 là Physical Evidence (Sự hữu hình). Giáo dục là một sản phẩm vô hình. Vậy làm sao có thể hữu hình hóa để khách hàng hiểu, chấp nhận và quyết định mua? Tùy vào đối tượng khách hàng mà trả lời câu hỏi này. Nếu đó là các bậc cha mẹ tìm kiếm một trường mầm non cho con thì họ quan tâm đến những gì? Hãy thiết kế chương trình phù hợp với mối quan tâm đó. .ếu đối tượng là người đi làm muốn học thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), thì cũng nên tìm hiểu họ quan tâm đến những gì?
Cuối cùng là People (Con người). Phần lớn các hiệu trưởng, trưởng khoa và giáo sư đại học ở các nước phát triển đều có ý thức thương mại hóa các nghiên cứu và phát minh của mình. Họ quan hệ cực kỳ tốt với rất nhiều công ty trong lĩnh vực họ nghiên cứu. Vì đây là cầu nối để đưa những sản phẩm quan trọng là sinh viên đến với thị trường.
Doanh thu và mô hình kinh doanh trong giáo dục
Lợi thế của mô hình kinh doanh giáo dục là vừa có thể là tổ chức phi lợi nhuận vừa có thể là tổ chức doanh lợi. Ngoài làm giáo dục có thể kêu gọi tài trợ, hỗ trợ từ các doanh nghiệp nhưng vẫn có thể thu phí như bất kỳ mô hình kinh doanh nào. Đại học Harvard xin tiền tài trợ hằng năm cả trăm triệu USD, nhưng học phí của Trường không rẻ chút nào.
Nếu so sánh với mô hình kinh doanh khác, kinh doanh giáo dục cũng có thể được bán sỉ cho các doanh nghiệp, hoặc có thể bán lẻ cho cá nhân. Ví dụ, nếu kinh doanh trường dạy tiếng Anh, bạn có thể bán những gói sản phẩm cho doanh nghiệp, hoặc có thể mở lớp dạy mọi đối tượng. Nhưng kinh doanh ngoại ngữ được xem là kinh doanh đại trà. Nếu kinh doanh giáo dục ở bậc sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) bạn có thể bán lẻ cho cá nhân đang đi làm, sinh viên muốn học cao hơn. Mô hình này được xem là sản phẩm cao cấp.
Mặc dù nhìn giáo dục dưới con mắt kinh doanh, nhưng đừng quên văn hóa của Quốc Gia. Dung hòa được 2 yếu tố này, việc kinh doanh giáo dục sẽ trường tồn.
Nguồn: Nhịp Cầu Đầu Tư
The Go-Giver (Người dám cho đi)
VIC.BRAND - Người dám cho đi chứa đựng một triết lý sống - hay đúng hơn là phương cách sống - giúp việc kinh doanh của bạn phát đạt, giúp cuộc sống của bạn phong phú và tạo cho bạn một ấn tượng tuyệt vời đối với thế giới xung quanh.
Bí quyết của thành công là “cho đi”…
Người dám cho đi kể câu chuyện của một người thanh niên đầy tham vọng tên Joe, đang khát khao thành công. Anh là một người dám dấn thân thật sự, dù đôi khi anh cảm thấy như thể càng làm việc gấp rút và cật lực, những mục tiêu của anh càng khó đạt được. Và rồi một ngày nọ, đang vô vọng tìm cách cứu doanh số của một quý tồi tệ, anh đã tìm xin lời khuyên từ những “người dám cho đi”: nhà tư vấn huyền thoại mà mọi người quen gọi là Chủ tịch, chủ nhà hàng, CEO, nhà tư vấn tài chính, nhà môi giới bất động sản, và người kết nối. Họ đã chia sẻ với Joe năm quy luật của thành công tột đỉnh và chỉ cho anh cách mở lòng ra với điều kỳ diệu của “cho đi”.
Joe nhận ra rằng thay đổi sự tập trung từ nhận lấy sang cho đi - đặt quyền lợi của người khác lên trên quyền lợi của mình và không ngừng làm tăng giá trị trong cuộc sống của người khác - cuối cùng sẽ mang lại lợi nhuận cao ngoài mong đợi.
Người dám cho đi là một câu chuyện lay động lòng người và truyền cảm hứng, sẽ mang đến những giá trị mới cho triết lý “Cho là nhận”.
Người dám cho đi là những người sống theo Năm quy luật của thành công tột đỉnh:
- Quy luật giá trị: Giá trị thật của bạn được quyết định bởi giá trị mà bạn cho đi chứ không phải ở giá trị mà bạn nhận được.
- Quy luật bù đắp: Thu nhập của bạn được quyết định bởi số người bạn phục vụ và cung cách bạn phục vụ họ.
- Quy luật ảnh hưởng: Ảnh hưởng của bạn được quyết định bởi mức độ mà bạn đạt quyền lợi của người khác lên trên quyền lợi của mình.
- Quy luật sống thật: Món quà quý nhất mà bạn có thể cho người khác chính là bản thân.
- Quy luật của sự tiếp nhận: Chìa khóa của việc cho đi một cách hiệu quả chính là luôn sẵn sàng nhận lấy.
Nguồn: Sách hay
Bí quyết của thành công là “cho đi”…Người dám cho đi kể câu chuyện của một người thanh niên đầy tham vọng tên Joe, đang khát khao thành công. Anh là một người dám dấn thân thật sự, dù đôi khi anh cảm thấy như thể càng làm việc gấp rút và cật lực, những mục tiêu của anh càng khó đạt được. Và rồi một ngày nọ, đang vô vọng tìm cách cứu doanh số của một quý tồi tệ, anh đã tìm xin lời khuyên từ những “người dám cho đi”: nhà tư vấn huyền thoại mà mọi người quen gọi là Chủ tịch, chủ nhà hàng, CEO, nhà tư vấn tài chính, nhà môi giới bất động sản, và người kết nối. Họ đã chia sẻ với Joe năm quy luật của thành công tột đỉnh và chỉ cho anh cách mở lòng ra với điều kỳ diệu của “cho đi”.
Joe nhận ra rằng thay đổi sự tập trung từ nhận lấy sang cho đi - đặt quyền lợi của người khác lên trên quyền lợi của mình và không ngừng làm tăng giá trị trong cuộc sống của người khác - cuối cùng sẽ mang lại lợi nhuận cao ngoài mong đợi.
Người dám cho đi là một câu chuyện lay động lòng người và truyền cảm hứng, sẽ mang đến những giá trị mới cho triết lý “Cho là nhận”.
Người dám cho đi là những người sống theo Năm quy luật của thành công tột đỉnh:
- Quy luật giá trị: Giá trị thật của bạn được quyết định bởi giá trị mà bạn cho đi chứ không phải ở giá trị mà bạn nhận được.
- Quy luật bù đắp: Thu nhập của bạn được quyết định bởi số người bạn phục vụ và cung cách bạn phục vụ họ.
- Quy luật ảnh hưởng: Ảnh hưởng của bạn được quyết định bởi mức độ mà bạn đạt quyền lợi của người khác lên trên quyền lợi của mình.
- Quy luật sống thật: Món quà quý nhất mà bạn có thể cho người khác chính là bản thân.
- Quy luật của sự tiếp nhận: Chìa khóa của việc cho đi một cách hiệu quả chính là luôn sẵn sàng nhận lấy.
Nguồn: Sách hay
Tags:
Books
48 Nguyên Tắc Chủ Chốt Của Quyền Lực
VGBrand - Bạn hãy xem 48 Nguyên Tắc Chủ Chốt Của Quyền Lực như là quyển sổ tay của nghệ thuật đánh lạc hướng. Những nguyên tắc được trình bày đều là ghi chép của những người từng nghiên cứu và thuần thục trò chơi quyền lực. Những ghi chép này trải suốt hơn 3000 năm, xuất xứ từ những nền văn minh rất khác nhau như Trung Quốc, Italia.
Tuy vậy chúng cùng chia sẻ những chủ đề và mạch tư tưởng, cùng gợi ý về một cốt tuỷ của quyền lực chưa được diễn giải minh bạch. 48 Nguyên Tắc Chủ Chốt Của Quyền Lực được chiết xuất từ sự uyên thâm tích luỹ đó, được góp nhặt từ tác phẩm của những bậc thầy về chiến lược ( Tôn Tử, Clausewitz ), chính trị (Bismarck, Talleyrand), triều ca ( Castiglione, Gracían), quyến rũ (Ninon de Lenclos, Casanova), và lừa đảo (Yellow Kid Weil) lỗi lạc nhất trong lịch sử...Tóm tắt nội dung các nguyên tắc:
1. Không bao giờ được tỏa sáng hơn ông chủ của mình (NEVER OUTSHINE THE MASTER)
Bài học về điều này trong lịch sử rất nhiều. Và kết quả của “công cao lấn chủ” đều rất bi thảm. Vì khi con người có được một thứ càng quý giá, thì nỗi lo sợ mất nó càng lớn.Họ luôn cảm thấy không an toàn và cảnh giác với bất cứ điều gì.
Một số lời khuyên:
- Luôn tỏ ra rằng ý tưởng thành công đều bắt nguồn từ ông chủ.
- Nếu bạn thực sự thông minh hơn ông chủ, hãy hành động như không phải vậy.
- Không nên khoe khoang về những gì bạn có trước mặt ông chủ bạn.
2. Không nên đặt quá nhiều niềm tin vào bạn bè, hãy học cách làm thế nào để dùng kẻ thù (NEVER PUT TOO MUCH TRUST IN FRIENDS, LEARN HOW TO USE ENEMIES)
Chắc bạn cũng biết câu chuyện: tin bạn mất … người yêu. Khi chúng ta đặt quá nhiều niềm tin tình cảm với ai đó, sự phán đoán và nhận xét khách quan về người đó cũng mất đi.Còn khi bạn ghét ai đó, bạn sẽ chỉ nhìn thấy khuyết điểm, mà không thấy được ưu điểm của họ. Bài học ở đây là hãy giữ thái độ khách quan, công bằng khi đưa bất cứ đánh giá hay quyết định nào.
Một số lời khuyên:
- Sự tha thứ của bạn với kẻ thù sẽ đem lại lòng biết ơn lớn hơn đối với bạn của bạn.
- Khả năng quan trọng hơn những cảm giác thân thiện.
- Bạn tiêu diệt kẻ thù bằng cách kết bạn với anh ta.
- Có kẻ thù theo gót, bạn sẽ luôn giữ được sự sắc sảo và tập trung.
3. Che giấu ý định của bạn (CONCEAL YOUR INTENTIONS)
Trong binh pháp Tôn Tử có kế “giương đông kích tây”, kế này còn cao hơn nguyên tắc 3 một bậc. Không chỉ che giấu chủ ý, mà còn khiến kẻ thù bị nhầm lẫn, bất ngờ. Hiệu quả sẽ nâng thêm một bậc.
Một vài lời khuyên:
- Tung hỏa mù.
- Giương đông kích tây.
- Có sự pha trộn thật giả để giảm sự nghi ngờ.
4. Luôn nói ít hơn cần thiết (ALWAYS SAY LESS THAN NECESSARY)
Chắc các bạn đã nghe câu: “Lời nói là bạc - Im lặng là vàng” hay câu “hãy uốn lưỡi 3 lần trước khi định nói điều gì”. Chúng ta giao tiếp với nhau qua ngôn từ, lời nói.Vì vậy, mỗi lời nói cần có sự cân nhắc kĩ lưỡng để khi nói ra không phải hối hận.
Một số lời khuyên:
- Nói ít sẽ giúp bạn tránh được những lời nói ngu ngốc, thậm chí nguy hiểm.
- Một lời nói ra, khó mà rút lại.
- Giữ im lặng có thể khiến người khác tiết lộ nhiều hơn về họ.
5. Nhiều điều phụ thuộc vào danh tiếng, vì vậy hãy bảo vệ nó trong suốt cuộc đời bạn (SO MUCH DEPENDS ON REPUTATION – GUARD IT WITH YOUR LIFE)
Ở đây mình có thể dẫn chứng bằng câu chuyện “Cậu bé chăn cừu”. Những lời nói dối của cậu đã làm mất đi niềm tin của mọi người, và khi cậu nói thật, không còn ai tin cậu nữa.
Một vài lời khuyên:
- Một danh tiếng vững chắc sẽ giúp bạn thuận lợi hơn mà không tốn nhiều công sức.
- Không bao giờ tuyệt vọng khi đấu tranh bảo vệ danh tiếng của mình trước sự vu khống của người khác.
- Tấn công danh tiếng của người khác giống như con dao hai lưỡi vậy. Nếu bạn lạm dụng và đi quá xa, bạn sẽ là người chịu tổn hại.
6. Tranh thủ sự chú ý bằng mọi giá (COURT ATTENTION AT ALL COST)
Chúng ta có thể tự trả lời được câu hỏi, tại sao lại nhiều tổ chức, nhiều cá nhân làm từ thiện thế, tại sao lại có nhiều vụ xì căng đan vậy. Tranh thủ sự chú ý bằng mọi giá, là điều mà marketing mong đạt được. Và với tình hình trước mắt, LET cũng cần tận dụng nguyên tắc này.
Một số lời khuyên:
- Hãy đứng trước ngọn nến, và để mọi người nhìn thấy bóng bạn trên tường .
7. Hãy để người khác thực hiện công việc cho bạn, nhưng hãy luôn là người nhận thành quả (GET OTHERS TO DO THE WORK FOR YOU, BUT ALWAYS TAKE THE CREDIT)
Điều này nghe có vẻ tàn nhẫn, nhưng đó là điều mà cuộc sống đang diễn ra. Chúng ta thực sự không nhận được đúng thành quả mà mình đáng được nhận.
Một số lời khuyên:
- Hãy đứng trên vai người khổng lồ. Để hoàn thành công việc hãy áp dụng tất cả thành tựu mà loài người đã có.
- Tiết kiệm sức lực và năng lượng bằng cách thuê người làm việc giúp mình.
- Bạn chỉ có thể khai thác khả năng của người khác, khi vị trí của bạn là không thể lay chuyển.
8. Thu hút người khác đến với bạn – sử dụng mồi nhử nếu cần (MAKE OTHER PEOPLE COME TO YOU – USE BAIT IF NECESSARY)
Mỹ là đất nước áp dụng nguyên tắc này từ khá sớm, điều đó đã góp phần tạo lên vị trí của Mỹ hiện tại.
Một số lời khuyên:
- Đối với những người giỏi, cần tìm mọi cách thu hút và giữ chân họ.
- Hãy giữ thế chủ động, nhưng để mọi người đến với bạn nghĩ rằng họ đang nắm quyền chủ động.
- Giữ bình tĩnh trong mọi tình huống.
9. Chiến thắng qua hành động của bạn, chứ đừng dùng lý lẽ (WIN THROUGH YOUR ACTIONS, NEVER THROUGH ARGUMENT)
Dù bạn có hàng trăm nghìn lý lẽ, song nếu bạn không có hành động thích hợp thì bạn sẽ không bao giờ có được thành công.
Một số lời khuyên:
- Hãy chứng minh, đừng giải thích.
- Học cách chứng minh sự đúng đắn của bạn một cách gián tiếp.
- Chọn lựa thời cơ phù hợp.
- Không ai có thể chối cãi một bằng chứng xác đáng.
- Nếu thời gian có thể dạy người khác điều bạn cố gắng nói, hãy để thời gian làm điều đó.
10. Tránh khỏi những điều bất hạnh và không may mắn (INFECTION: AVOID THE UNHAPPY AND THE UNLUCKY)
Bạn có nghĩ rằng khi gần người bất hạnh thì bạn cũng sẽ gặp bất hạnh, gần người thiếu may mắn thì bạn cũng sẽ luôn gặp rủi ro?
Bạn không phải là người duy tâm, song những yếu tố trên vẫn gây cảm giác e ngại cho bạn. Vì vậy tốt hơn hết, bạn nên giữ khoảng cách,và hãy hướng tới những điều hạnh phúc và may mắn .
Một số lời khuyên:
- Trong trò chơi quyền lực, những người kết nối với bạn giữ vai trò quan trọng vì vậy hãy tạo những kết nối thích hợp.
- Hướng tới sự thịnh vượng và vui vẻ.
- Suy nghĩ tích cực.
11. Học cách giữ mọi người phụ thuộc vào bạn (LEARN TO KEEP PEOPLE DEPENDENT ON YOU)
Để có thể điều khiển được người khác trước hết cần khiến họ phụ thuộc vào bạn.Vậy mối liên hệ đấy xây dựng trên những cơ sở nào là vững chắc nhất? Đó chính là tình yêu và sự sợ hãi.
Một vài lời khuyên:
- Hãy khiến sự nghiệp của người khác phụ thuộc vào bạn.
- Sử dụng bí mật của người khác, hay những thông tin họ không muốn công khai để tạo sự ràng buộc. (cái này nghe giống tống tiền quá)
12. Sử dụng sự trung thực và rộng lượng khéo léo để giải tỏa sự phòng bị từ nạn nhân của bạn (USE SELECTIVE HONESTY AND GENEROSITY TO DISARM YOUR VICTIM)
Đây là bài học khi tấn công các nàng, nếu bạn không muốn bị loại ngay từ vòng gửi xe, hãy vào vai diễn thật hoàn hảo. Khi đã qua được lớp vệ sĩ vây quanh nàng, cầm được tay nàng, thì lúc đó … hãy thực hiện nguyên tắc 11 ngay.
Một số lời khuyên:
- Điều quan trọng nhất đó là bạn cần bỏ vốn, cho đi trước khi nhận lại.
13. Khi cầu xin sự giúp đỡ của người khác, hãy dựa vào những điều họ thích thú, đừng dựa vào lòng tốt hay lòng biết ơn của họ (WHEN ASKING FOR HELP, APPEAL TO PEOPLE’S SELF-INTEREST, NEVER TO THEIR MERCY OR GRATITUDE)
Điều này cũng giống như khi muốn ai đó đầu tư cho bạn, cách tốt nhất đó là cho họ thấy tiềm năng của bạn. Lợi nhuận là thứ mà họ quan tâm, sự đầu tư là điều bạn cần. Sự giúp đỡ chỉ có thể bền vững trên sự hợp tác.
Một số lời khuyên:
- Cần tìm hiểu động lực của đối tác.
- Suy nghĩ đứng trên phương diện của đối tác, tìm cách khiến họ thấy được lợi thế khi hợp tác.
14. Tỏ ra là một người bạn, hành động như một gián điệp (POSE AS A FRIEND, WORK AS A SPY)
Nếu bạn là người hay tâm sự với bạn thân của mình, hãy cẩn thận với điều đó. Nếu muốn tâm sự với ai đó hãy tâm sự với một người không biết bạn là ai hoặc ít liên quan tới lĩnh vực của bạn. Sự cẩn trọng sẽ không bao giờ thừa.
Một số lời khuyên:
- Sử dụng “Mỹ nhân kế”.
- Sử dụng thông tin giả để thăm dò đối phương, từ đó xây dựng kế hoạch chu toàn.
15. Đẩy lùi kẻ thù của bạn hoàn toàn (CRUSH YOUR ENEMY TOTALLY)
Thời xưa có câu “diệt cỏ tận gốc” cũng có ý nghĩa tương tự. Sự chủ quan coi thường địch thủ, dù họ đã yếu thế là một điều có thể khiến bạn hối hận. Những câu truyện như: Dự Nhượng - Tráng sĩ nuốt than báo thù cho tri kỷ.
Câu Tiễn - Vua mà phải nếm phân kẻ thù là bài học nổi tiếng trong lịch sử.
Một số lời khuyên:
- Khoan dung với kẻ thù là độc ác với chính mình.
- Không để cho kẻ thù của bạn có sự lựa chọn nào cả.
- Đôi khi kẻ thù tự tiêu diệt lẫn nhau.
16. Sử dụng khéo léo sự vắng mặt để tăng thêm sự kính trọng và danh giá (USE ABSENCE TO INCREASE RESPECT AND HONOR)
Đây là kế “lùi một bước để tiến hai bước”. Bạn nghĩ sao khi một ca sĩ hay một cầu thủ giải nghệ trên đỉnh vinh quang của sự nghiệp. Sự nổi tiếng cùng danh vọng của họ sẽ được tăng rất cao. Họ trở thành sự mong đợi , rào đón của mọi người, tổ chức. Để xem vị trí của bạn trong tổ chức, hãy đi đâu đó một thời gian, và xem phản ứng của mọi người. Có lẽ mình cũng thử áp dụng điều này, về quê chăn vịt một thời gian xem có ai mong ngóng không…
Một số lời khuyên:
- Biết cách tăng giá trị của mình, sẽ làm tăng sự quý trọng từ mọi người xung quanh.
- Nhận những công việc đặc biệt, giải quyết nó một cách đặc biệt và nhận phần thưởng một cách đặc biệt.
17. Giữ đối phương trong nỗi lo sợ lơ lửng: duy trì không khí bất ngờ, không thể dự đoán trước được (KEEP OTHERS IN SUSPENDED TERROR: CULTIVATE AN AIR OF UNPREDICTABILITY)
Đòn tâm lí được áp dụng rất phổ biến trong trò chơi quyền lực. Đòn tâm lí được tăng thêm sức mạnh bằng những điều bất ngờ khó dự đoán trước. Hãy để đối thủ của bạn sống trong những câu hỏi: tại sao hắn làm vậy? Có cạm bẫy gì? Làm sao để đối phó? Họ sẽ liên tục tự tra tấn mình bằng những câu hỏi đau đầu như vậy và không còn tỉnh táo tập trung vào vấn đề chính, và càng trở lên rối loạn hơn khi lại đoán trật lất.
Một số lời khuyên :
- Giữ thân bạn cách xa đối phương, nhưng con mắt bạn luôn dán vào họ.
- Không bao giờ được hài lòng với bất cứ một cách nào, hãy nghĩ ra cách mới, sự ngạc nhiên mới.
18. Đừng bao giờ xây dựng pháo đài để tự bảo vệ mình – Cô lập tạo lên nguy hiểm (DO NOT BUILD FORTRESSES TO PROTECT YOURSELF – ISOLATION IS DANGEROUS)
Nếu bạn đang xa lánh mọi người xung quanh, trong tổ chức, thì đó là cách mà bạn đang tự chặt bớt những sợi rễ sống của mình. Bức tường ngăn cản sự giao tiếp của bạn với thế giới chỉ có thể phá bỏ bởi chính bạn, và hãy làm điều đó ngay.
Một số lời khuyên:
- Pháo đài bảo vệ bạn có thể trở thành nhà tù giam cầm bạn.
19. Biết mình đang đối phó với ai – đừng xúc phạm nhầm người (KNOW WHO YOU’RE DEALING WITH – DO NOT OFFEND THE WRONG PERSON)
Nguyên tắc này tương tự câu nói: “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Trong cuộc sống, trước khi đặt bất cứ mục tiêu nào, trước hết hãy nghĩ xem vị trí hiện tại của mình ở đâu, và thế giới xung quanh đang phát triển thế nào. Khi đã thực sự nhận thức đúng đắn, bạn đã cầm chắc trong tay một nửa chiến thắng, nửa còn lại là nỗ lực thực hiện của bạn.
Một số lời khuyên:
- Đừng bao giờ nhìn mặt mà bắt hình dong.
20. Đừng giao phó hoàn toàn cho bất cứ ai (DO NOT COMMIT TO ANYONE)
Để có thể tồn tại trong trò chơi quyền lực bạn cần tính toán cho mình nhiều nước cờ, tạo cho mình nhiều sự lựa chọn. Từ đó chọn con đường đi tốt nhất cho mình.
Một số lời khuyên:
- Đừng bao giờ : “Được ăn cả ngã về không”.
- Không bao giờ tin tưởng hoàn toàn vào ai ngoài chính mình.
- Hãy để cuộc đời bạn nằm trong sự kiểm soát của bạn.
21. Hãy chơi trò ngu ngốc với những kẻ ngu ngốc (PLAY A SUCKER TO CATCH A SUCKER – SEEM DUMBER THAN YOUR MARK)
Một số lời khuyên:
- Tỏ ra ngu ngốc sẽ khiến đối phương chủ quan.
- Sự chủ quan sẽ tạo nên kẽ hở và cơ hội tấn công cho bạn.
- Hãy nhớ câu : khéo quá hóa vụng.
22. Sử dụng chiến thuật đầu hàng: chuyển điểm yếu thành sức mạnh (USE THE SURRENDER TACTIC: TRANSFORM WEAKNESS INTO POWER)
Một số lời khuyên:
- Nếu chiến thắng khiến kẻ thù mù quáng thì hãy cho họ chiến thắng.
- Không nên lấy cứng chọi cứng .
- Đầu hàng sẽ co bạn thời gian để lên kế hoạch tiếp theo, và che giấu mục đích của mình.
23. Tập trung sức mạnh của bạn (CONCENTRATE YOUR FORCES)
Đoàn kết, tập trung được toàn bộ sức mạnh có thể chiến thắng bất cứ lực lượng nào đó là điều mà nhân dân ta đã áp dụng hoàn hảo trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
Một số lời khuyên:
- Một cây làm chẳng lên non, Ba cây chụm lại lên hòn núi cao.
- Luôn làm việc một cách nghiêm túc, tập trung để đạt được hiệu quả cao.
- Tìm cách gắn bó, tạo mối liên hệ bền chặt giữa các thành viên trong nhóm.
24. Làm người cận thần hoàn hảo (PLAY THE PERFECT COURTIER)
- Tránh phô trương, nói ít về bản thân.
- Tỏ ra lãnh đạm. Hoàn thành các công việc tỏ ra một cách dễ dàng không tốn nhiều công sức.
- Sàng lọc phong cách và ngôn ngữ của bạn cho phù hợp với những người xung quanh.
- Không bao giờ ngạc nhiên với những tin xấu, bất ngờ.
25. Luôn tái tạo lại chính mình (RE-CREATE YOURSELF)
Không ngừng thay đổi bộ mặt của mình sẽ tạo ra được sự chú ý cần thiết xung quanh. Sự bất ngờ và kì lạ sẽ đem lại tiếng tăm cho bạn.
26. Giữ đôi tay của bạn sạch sẽ (KEEP YOUR HANDS CLEAN)
27. Sử dụng những điều người khác cần phải tin tưởng, để khiến họ đi theo giống như đi theo tín ngưỡng (PLAY ON PEOPLE’S NEED TO BELIEVE TO CREATE A CULT-LIKE FOLLOWING)
- Giữ sự đơn giản, giữ sự mơ hồ.
- Giữ sự sáng suốt, Hành động như một nhà tiên tri.
- Mượn các hình thức tổ chức tôn giáo để cơ cấu các nhóm. Tạo nghi thức. Sử dụng tên và cấp bậc, chức danh.
28. Hành động với lòng dũng cảm, táo bạo (ENTER ACTION WITH BOLDNESS)
- Sư tử bao vây những con mồi do dự.
- Sự dũng cảm táo bạo có khả năng lan truyền với đông đội và tạo sự khiếp sợ cho kẻ thù.
- Dũng cảm chứ không phải hữu dũng vô mưu.
29. Lên kế hoạch tất cả các con đường dẫn tới đích (PLAN ALL THE WAY TO THE END)
Một số lời khuyên:
- Đưa vào kế hoạch tất cả những trở ngại có thể và hoàn cảnh nào có thể ngăn cản bạn đạt được mục tiêu, kế hoạch như thế nào giúp bạn vượt qua chúng.
- Chuẩn bị thay thế và mở rộng một cách thích hợp các tuyến đường mới đến mục tiêu của bạn.
30. Làm thành tích bạn đạt được có vẻ dễ dàng, không tốn sức lực (MAKE YOUR ACCOMPLISHMENTS SEEM EFFORTLESS)
Điều này sẽ làm tăng giá trị của bạn trong con mắt của người khác.
Một số lời khuyên:
- Đừng bao giờ nói về công việc của bạn cho tới khi nó kết thúc.
- Tận dụng, chia sẻ công việc để tạo hiệu quả cao nhất.
31. Điều khiển thế trận: Hãy khiến mọi người chơi với những lá bài mà bạn muốn (CONTROL THE OPTIONS: GET OTHERS TO PLAY WITH THE CARDS YOU DEAL)
- Cho mọi người những lựa chọn để họ có cảm giác rằng mình đang giành quyền điều khiển.
- Hãy biện hộ cho điều ngược lại để họ chọn lựa con đường mà bạn muốn.
- Thay đổi cục diện để trận đấu chỉ còn lại những lựa chọn mà bạn muốn.
32. Trò chơi dựa trên ảo tưởng của mọi người (PLAY TO PEOPLE’S FANTASIES)
- Con người cần sự mộng tưởng để thoát khỏi sự nhàm chán buồn tẻ của cuộc sống hằng ngày.
- Hứa hẹn sự sung túc giàu có có thể đạt được trong chốc lát.
33. Khám phá điểm yếu của mỗi người (DISCOVER EACH MAN’S THUMBSCREW)
34. Hãy hành động như một vị vua để được đối xử như vậy (BE ROYAL IN YOUR OWN FASHION: ACT LIKE A KING TO BE TREATED LIKE ONE)
35. Bậc thầy về nghệ thuật thời gian (MASTER THE ART OF TIMING)
- Không bao giờ được tỏ ra vội vã điều này sẽ khiến bạn mất đi sự đều khiển.
- Tập lùi lại và kiên nhẫn. Hành động khi đúng thời điểm.
- Dự đoán tương lai.
- Cảm nhận được cơn gió đang thổi nhưng không nhất thiết phải hòa mình vào cơn gió ấy.
36. Nếu người khác khinh miệt những điều bạn không hề có thì bỏ qua họ chính là sự trả thù tốt nhất (DISDAIN THINGS YOU CANNOT HAVE: IGNORING THEM IS THE BEST REVENGE)
- Sự quan tâm của bạn dành cho kẻ thù nhiều bao nhiêu sẽ giúp cho kẻ thù của bạn mạnh hơn bấy nhiêu.
- Hãy nhớ rằng chính bạn tự làm mình phiền muộn, nếu học cách kiểm soát điều đó bạn sẽ thành công.
37. Tạo ra những cảnh tượng hấp dẫn (CREATE COMPELLING SPECTACLES)
- Đừng bao giờ cẩu thả với những điều có thể cảm nhận bằng mắt.
- Mọi người luôn bị ấn tượng bởi vẻ bề ngoài.
38. Suy nghĩ những gì bạn muốn nhưng hãy hành động giống những người khác (THINK AS YOU LIKE BUT BEHAVE LIKE OTHERS)
39. Khuấy nước bắt cá (STIR UP WATERS TO CATCH FISH)
- Ý nghĩa của điều này là làm cho đối phương tức giận hoặc không kiềm chế đuợc cảm xúc, họ sẽ lộ sơ hở và đó sẽ là cơ hội cho bạn.
40. Coi khinh những thứ miễn phí (DESPISE THE FREE LUNCH)
- Tự túc sẽ giúp bạn thoát khỏi sự biết ơn với người khác.
41. Tránh ẩn dưới bóng những con người vĩ đại (AVOID STEPPING INTO A GREAT MAN’S SHOES)
- Chọn những con đường và phong cách khác nếu bạn là hậu duệ của một người vĩ đại.
42. Đánh người chăn cừu thì bầy cừu sẽ chạy tán loạn (STRIKE THE SHEPHERD AND THE SHEEP WILL SCATTER)
- Đánh trận chém tướng.
43. Làm việc dựa trên trái tim và khối óc của người khác (WORK ON THE HEARTS AND MINDS OF OTHERS)
- Nhắm vào những cảm xúc của con người: yêu, ghét, đố kị….
44. Giảm sự phòng bị và hồi mã thương (DISARM AND INFURIATE WITH THE MIRROR EFFECT)
45. Thuyết giáo sự cần thiết phải thay đổi, nhưng không được cải cách một lúc (PREACH THE NEED FOR CHANGE, BUT NEVER REFORM TOO MUCH AT ONCE)
- Cải cách là một con dao hai lưỡi, nếu hợp lí nó tạo ra sự thay đổi tuyệt vời. Còn nếu quá vội vàng nó sẽ gây ra biến động và sụp đổ.
46. Không bao giờ được xuất hiện quá hoàn hảo (NEVER APPEAR TOO PERFECT)
- Không bao giờ được đánh giá thấp sức mạnh của sự đố kị. Người có cùng địa vị xã hội với bạn sẽ là người đầu tiên đố kị với thành công của bạn.
- Đối với sự đố kị trá hình bằng những lời chỉ trích, nói xấu, sự tán dương quá mức thì bạn nên trả thù bằng việc bỏ ngoài tai những điều đó.
47. Không nên vượt quá những gì bạn nên giữ, hãy biết khi nào phải dừng lại (DO NOT GO PAST THE MARK YOU AIMED FOR; IN VICTORY, LEARN WHEN TO STOP)
- Bản chất của chiến thuật đó là điều khiển điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
- Không có thời điểm nào để dừng lại và bỏ đi hơn là sau chiến thắng
48. Chấp nhận rằng không có gì là bất biến (ASSUME FORMLESSNESS).
Nguồn: Benjamin Pham & Hanzo_hatori dịch.
Tags:
Books
Lương của các Giám đốc truyền thông là bao nhiêu?
Vietnam Green - Ngành truyền thông có thể đang trải qua những thời điểm sóng gió, nhưng ít nhất một thứ vẫn không thay đổi: thu nhập hậu hĩnh cho các nhà lãnh đạo.
Thu nhập nhiều triệu đô-la
Giới điều hành cấp cao tại các công ty truyền thông lớn nhất của Mỹ tiếp tục thu về những khoản lương nhiều triệu đôla trong năm 2009, một năm cắt giảm chi phí diễn ra phổ biến trong khắp ngành này. Trong một số trường hợp, thu nhập của họ thậm chí còn tăng hơn so với năm trước.Đứng đầu danh sách là Leslie Moonves, giám đốc điều hành của CBS Corporation. Tổng thu nhập của ông năm 2009 lên tới gần 43 triệu USD, hơn gấp đôi những gì ông kiếm được vào năm 2008, theo một phân tích của Equilar, công ty nghiên cứu thanh toán lương cho giới điều hành.
Không xa phía sau là giám đốc điều hành của Viacom, Philippe P. Dauman, người được trả gần 34 triệu USD, tăng 22% so với năm 2008. Sumner M. Redstone, nhà điều hành CBS và Viacom, hưởng thu nhập hơn 33 triệu USD từ hai công ty cộng lại.
"Bất cứ ai nghiên cứu ngành kinh doanh này đều biết rằng lợi nhuận đang được ép chặt tại các công ty truyền thông, vì thế, thực tế có những khoản lương lớn này không có ý nghĩa gì cả", James F. Reda, người thành lập James F. Reda & Associates, công ty tư vấn lương với nhiều văn phòng tại New York và Atlanta nói.
Tại Comcast, hai nhà điều hành được trả lương cao nhất, Brian L. Roberts và Stephen B. Burke, có thu nhập lần lượt là 25 triệu USD và 31 triệu USD. Lương của Robert gần như giữ nguyên mức năm 2008, trong khi thu nhập của Burke tăng khoảng 12 triệu USD, phần lớn vì các khoản tiền thưởng một lần liên quan tới việc công ty này mua lại NBC Universal.
Đối với một số giám đốc, vận hành một công ty truyền thông năm 2009, dù có khó khăn, nhưng thậm chí còn béo bở nhiều hơn cả một công ty tài chính lớn, nơi nhiều ban lãnh đạo cắt giảm lương điều hành sau gói cứu trợ tài chính liên bang.
Ngành ngân hàng không còn "ăn khách"
John G. Stumpf, người đứng đầu Wells Fargo, là giám đốc tài chính được trả lương cao nhất, với thu nhập 18,8 triệu USD, theo một phân tích của Equilar. Lloyd C. Blankfein, người đứng đầu Goldman Sachs, kiếm được 41 triệu USD năm 2008 còn năm 2009 đã giảm 1 triệu USD. Equilar nói, không kể 9 triệu USD ông nhận được năm nay cho công việc đã hoàn thành từ năm trước nhưng không được cho vào phép tính của Equilar.
Lương của nhân viên ngân hàng sẽ nhiều khả năng trở lại mức trước đó nếu cải cách tài chính diễn ra thành công, Reda nói, nhưng các ngân hàng sẽ không còn là mục tiêu nghề nghiệp của nhiều người nữa.
Reda nói, "chính phủ sẽ làm gì sau khi cải cách tài chính? Lấy đi sinh nhật của họ?"
Mặc dù nhiều công ty truyền thông đã và sẽ trải qua những thời điểm khó khăn và sự không chắc chắn trong việc duy trì được doanh thu trong tương lai số, năm 2009, các nhà đầu tư vẫn không bỏ đi. Cổ phiếu của CBS đã tăng 74% năm 2009, và Viacom tăng 56%.
Ở trường hợp của nhiều giám đốc truyền thông, trong đó có Dauman tại Viacom, hầu hết tiền lương đều được tính dựa trên hoạt động của công ty. Lương cơ bản của Dauman năm 2009, 2,5 triệu USD, không thay đổi so với năm trước.
Ngành truyền thông đã phục hồi trong năm 2009, sau một năm 2008 đặc biệt khó khăn, nhưng nhiều công ty vẫn luôn tính chuyện cắt giảm chi phí, trong đó có chi phí lao động. Doanh thu nhìn chung vẫn giảm phổ biến, nhưng trong nhiều trường hợp lợi nhuận lại tăng.
Tại Viacom, doanh thu năm 2009 giảm 7% so với năm trước, nhưng lợi nhuận của công ty lại tăng 1,6 tỷ USD, tức 29%, không cách quá xa mức tăng lương 22% của Dauman. CBS đã lại có lợi nhuận trong năm 2009 - 227 triệu USD - sau một năm 2008 suy giảm nặng nề.
Rich Greenfield, một nhà phân tích truyền thông tại BTIG New York nói: "Hiện nay, tiền lương cho các nhà quản lý không phải là điều khiến người ta đầu tư hay không đầu tư vào những cổ phiếu này. Các cổ đông tập trung hơn vào triển vọng tăng trưởng ngoạn mục của công ty hơn là các khoản lương trả cho nhà điều hành".
Lương tăng còn vượt ra ngoài một số hãng truyền thông lớn sang một số công ty báo chí lớn nhất.
Craig A. Dubow, giám đốc Gannet, nhà xuất bản báo chí lớn nhất của Mỹ, được trả 4,4 triệu USD trong năm 2009, tăng 17% so với năm trước.
Tại tờ New York Times, Janet L. Robinson, tổng giám đốc, nhận mức lương 4,9 USD năm 2009, tăng 26% so với năm trước, còn Arthur Sulzberger Jr., chủ tịch, nhận 4,8 USD, tăng 171%. Gary B. Pruitt, giám đốc điều hành McClatchy, được trả 2,5 triệu USD năm 2009, tăng 61%.
Không phải ai cũng được tăng lương
Nhưng lương không phải ở đâu lương của những ông lớn này cũng tăng hoặc tăng như nhau.
Rupert Murdoch tại News Corporation đều bị giảm 40% lương - xuống còn khoảng 18 triệu USD - và 21% đối với Roger Ailes, người đứng đầu Fox News, với mức lương chỉ còn 14,6 triệu USD.
Lương của các nhà điều hành hàng đầu khác cũng giảm. Robert A. Iger, người đứng đầu Disney, chỉ nhận được mức lương 21,6 triệu USD năm 2009, giảm 58% so với năm trước, và đối tác của ông tại Time Warner, Jeffrey L. Bewkes, thì chỉ nhận 19,4 triệu USD, "thất thu" 10%.
Một số nhà phân tích nói rằng thị trường thay đổi và sự bất ổn xung quanh vấn đề kinh doanh truyền thông thực tế có thể góp phần vào tạo nên những khoản lương lớn, làm các công ty thậm chí còn quyết tâm hơn trong việc giữ chân những người được coi là nhà điều hành tài năng.
Khi bạn có một ngành trải qua nhiều xáo động như vậy, nó ngày càng làm tăng áp lực lên lương vì rất nhiều người nhảy việc", Don Delves, chủ tịch tập đoàn Delves, công ty tư vấn lương tại Chicago nói. "Người ta tìm kiếm rất nhiều, họ nhảy việc và vì thế sẽ có người phải lo lắng sẽ mất đi những tài năng".
Ông nói thêm rằng, những khoản lương lớn là "một trong những khó khăn của cả mô hình kinh doanh".
Nguồn: The New York Times
Bản dịch: Đình Ngân/ Tuần Việt Nam
Tags:
CMO
Điều gì tạo nên một giám đốc công nghệ thông tin giỏi?
Vietnam Green - Thế nào là một giám đốc công nghệ thông tin (Chief Information Officer – CIO) giỏi? Điều gì tạo nên một giám đốc công nghệ thông tin hoàn hảo? Câu trả lời tuỳ thuộc cách bạn xác định tính chất công việc của họ như thế nào.
Một bài báo mang tên “Công nghệ không tin không quan trọng” do Nicholas Carr, cựu chủ bút tờ Thời Báo Kinh Tế Harvard nổi tiếng, viết đã làm xôn xao dư luận. Và nếu bạn tin vào giả thiết của ông có thể bạn sẽ có một cách nhìn hoàn toàn khác về vai trò của giám đốc công nghệ thông tin trong doanh nghiệp.Theo ông Carr, công nghệ thông tin là ngành mới nhất trong số các ngành công nghệ mới đã và đang mang lại những đóng góp to lớn cho sự phát triển của các ngành công nghiệp trong suốt 2 thế kỷ qua. Cũng như các ngành khác, công nghệ thông tin đang nhanh chóng trở thành một yếu tố trong cơ sở hạ tầng ngành thương mại, mở ra những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp có tầm nhìn chiến lược.
Tuy nhiên khi vai trò, lợi ích của công nghệ thông tin tăng, chi phí sẽ giảm và khi chúng được sử dụng khắp nơi trên thế giới thì ngẫu nhiên sẽ trở thành đầu vào của tất cả các loại hàng hoá. Từ một quan điểm chiến lược chúng trở nên vô hình và không còn là vấn đề đáng quan tâm nữa. Việc quản lý bộ phận công nghệ thông tin trong doanh nghiệp, do vậy, đang là một vấn đề đáng suy nghĩ.
Ông Carr cũng nhấn mạnh không nên sử dụng công nghệ thông tin như một vũ khí cho sự tăng trưởng vì như vậy là rất rủi ro. Bất kỳ một thành công nào đạt được từ sử dụng công nghệ thông tin sẽ nhanh chóng bị các đối thủ khác bắt chước và giành mất. Theo ông, các CIO nên là một người đi theo nhanh nhẹn chứ không nên là người dẫn đầu.
Tuy nhiên liệu một CIO hiện đại có thực sự chỉ nên là một người lẩn tránh rủi ro, một người theo sau nhanh nhẹn? Câu hỏi “Điều gì sẽ tạo nên một giám đốc công nghệ thông tin giỏi” đã được đưa ra và dưới đây là quan điểm thu được từ 3 nhà tuyển dụng nhân sự công nghệ thông tin cao cấp của Mỹ:
Theo ông Rich Brennen, Trưởng điều hành toàn cầu công ty Spencer Stuart, các CIO cần hiểu về doanh nghiệp mình, về lĩnh vực mình đang điều hành. Ngoài ra, các CIO cũng cần biết các kỹ năng quản lý, là người có uy tín, có khả năng thu hút những người tài giỏi, biết nhìn xa trông rộng cũng như cần có kỹ năng quan hệ phù hợp với xu thế chung trên thế giới.
Theo ông Tarun Inuganti, đối tác công ty Korn/Ferry International:
Một CIO lý tưởng là người có thể đóng vai trò cầu nối giữa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với công nghệ thông tin, người có thể cùng ban giám đốc đưa ra những giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp khai thác được đầy đủ các tiềm năm của mình nhờ công nghệ đồng thời không ngừng gắn kết những lợi thế của công nghệ tới toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Ông Reynold Lewke, đối tác công ty Egon Zehnder, cho biết các CIO cần biết xây dựng chiến lược công nghệ thông tin - kinh doanh kết hợp, một chiến lược công nghệ có thể hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời biết thuyết phục mọi người hiểu cần phải làm những gì để thực hiện được chiến lược đó.
Các kỹ năng cần thiết của CIO trong tương lai
Theo Brennen, các CIO cần học cách quản lý những áp lực về chi phí cũng như cải thiện và phát triển tính nhạy bén cho thế hệ kế cận.
Theo Inuganti, các CIO thế kỷ 21 sẽ đóng vai trò như một chuyên viên kinh doanh chiến lược, đảm nhiệm việc phát triển, kết nối, gây ảnh hưởng cũng như thực hiện và phân phối các giải pháp kinh doanh, phát triển các mối quan hệ hiện tại, thiết lập các mối quan hệ tiềm năng thông qua công nghệ thông tin.
Theo Lewke, các CIO hiện đại rất cần có tính nhạy cảm về sự khác biệt nền văn hoá bởi có như vậy CIO mới có thể điều hành tốt một tập thể làm việc đa quốc gia, đa chủng tộc trong xu thế kinh tế toàn cầu hoá hiện nay cũng như giúp xác định rõ những mặt hàng nào nên tung ra trên thị trường nào, rút ngắn thời gian đưa các sản phẩm mới ra thị trường.
Vẫn còn rất nhiều quan điểm khác nhau về một CIO giỏi, tuy nhiên những quan điểm về một CIO biết né tránh rủi ro (risk-averse) hay một người theo sau nhanh nhẹn (fast-follower) của Nicholas Carr cũng rất đáng lưu tâm.
Nguồn: Tầm Nhìn
Tags:
CIO
